Facebook Trùn Quế Twitter Trùn Quế Youtube Trùn Quế In Trùn Quế Google Trùn Quế

Dịch Trùn Quế Promin Trong Ương Ấu Trùng Tôm Càng Xanh

03-01-2017 Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

Thử nghiệm sử dụng dịch trùn quế promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)

Giới thiệu

Trùn quế (Perionyx excavatus) hiện nay được xem là nguồn thức ăn quý giá trong ương nuôi các đối tượng thủy sản như tôm hùm, ba ba, tôm sú, tôm càng xanh,… có giá trị dinh dưỡng cao cùng các acid amin thiết yếu. Các sản phẩm từ trùn quế đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công trong thủy sản như: Bột trùn, phân trùn, dịch trùn quế Promin, BIO-T,… Trong đó, bột trùn quế đã được nghiên cứu làm thức ăn bổ sung trong ương ấu trùng tôm sú, cho kết quả chất lượng Postlorvae – 15 tốt hơn thức ăn nhập ngoại Frippak (Phan Thị Bích Trâm và ctv., 2009). Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Minh và ctv., (2010) khi phân lập vi sinh vật kiểm soát mầm bệnh trong trùn quế (Perionyx excavatus) nhận thấy: trong 13 chủng Bacillus sp. thì thấy 3 chủng Bacillus sp. đối kháng với vi khuẩn gây bệnh và kháng mạnh với nhóm Vibrio. Mặc dù được ứng dụng nhiều trong thủy sản nhưng sử dụng dịch trùn quế trong sản xuất giống tôm càng xanh vẫn còn hạn chế, do đó “Thử nghiệm sử dụng dịch trùn quế Promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)” được thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Sinh học Ứng dụng – Trường Đại học Tây Đô, nhằm góp phần nâng cao tỉ lệ sống ấu trùng tôm càng xanh, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm càng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nội dung nghiên cứu

– Ảnh hưởng của liều lượng, chu kỳ cho ấu trùng sử dụng thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin đến các yếu tố môi trường: nhiệt độ, pH, TAN, N-NO2-, N-NO3- , khi ương tôm càng xanh theo qui trình nước trong kín.

– Đánh giá biến động mật độ vi khuẩn Vibrio sp. trong quá trình ương tôm càng xanh, khi tôm được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin.

– Ảnh hưởng của dịch trùn quế đến tỉ lệ sống PL15 tôm càng xanh khi kết thúc thí nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí theo qui trình nước trong kín (Closed-clear water systems) được nghiên cứu và áp dụng bởi Sanfider và Smith từ năm 1975 (Valenti và Daniel, 2000). Hệ thống thí nghiệm gồm 30 bể nhựa, có thể tích nước ương là 50 lít/bể. Nước ương có độ mặn 12%o được pha từ nước ót (80‰) và nước máy thành phố. Ấu trùng được bố trí với mật độ 60 con/L. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại với 2 nhân tố là 4 liều lượng bổ sung dịch trùn quế vào thức ăn chế biến (0, 1, 2, 3 ml/kg) và 3 chu kì cho ấu trùng ăn thức ăn chứa dịch trùn quế (Promin) khác nhau (hằng ngày, cách 1 ngày, cách 2 ngày) xen kẽ với thức ăn chế biến bình thường, không bổ sung dịch trùn (Bảng 1).

Từ 100% trùn quế, dịch trùn quế Promin có chứa vitamin B1 (50 mg); Vitamin B6 (40 mg); Vitamin B12 (60 mg); Alanin (150 mg); Glycine (140 mg); Leucine (180 mg); Serine (130mg); Aspartic acid (280 mg); Glutamic acid (260 mg); Lysine (120 mg); Bacillus spp. (6,7 x10^4 CFU/ml); Lactobacillus (4,0 x 10^3 CFU/ml).

Từ giai đoạn I đến IV, ấu trùng tôm được cho ăn Artemia 2 lần/ngày với mật độ 3 – 4 ấu trùng/mL. Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn V, thức ăn chế biến được cho ăn 4 lần/ngày (7 giờ, 10 giờ, 13 giờ và 16 giờ) và kết hợp Artemia vào lúc 18 giờ với mât độ 1 – 2 ấu trùng/mL. Lượng thức ăn chế biến được cho ăn thỏa mãn nhu cầu bắt mồi của ấu trùng. Công thức thức ăn chế biến cơ bản dựa trên công thức của Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2003). Dịch trùn quế được bổ sung vào thức ăn với các liều lượng khác nhau khi thức ăn được cà nhuyễn theo các kích cỡ mắt lưới từ 300 – 700 µm, tương ứng từng giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh.

Trong thời gian thí nghiệm, chỉ tiêu nhiệt độ và pH được ghi nhận 2 lần/ngày (8 giờ và 14 giờ), các chỉ tiêu TAN, N-NO2-, N-NO3-, Vi khuẩn Vibrio sp. được thu mẫu trước khi bố trí thí nghiệm và sau đó định kì 3 ngày/lần với các phương pháp phân tích lần lượt là Indophenol blue, Diazonium, Salicilate và đếm số khuẩn lạc cấy trên TCBS agas. Tỉ lệ sống PL15 được xác định vào cuối thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu

Nhiệt độ và pH: Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ dao động trong khoảng (28,5 ± 0,48 oC – 31,3 ± 0,47oC) và pH từ (7,87 ± 0,07 – 8,19 ± 0,06). Đây là khoảng biến động thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh (Boyd và Zimmermann, 2000).

Tổng đạm Ammonia (TAN: Total Ammonia Nitrogen): Hàm lượng TAN tương đối thấp trong 7 ngày đầu, sau đó có xu hướng tăng ở hầu hết các nghiệm thức và đạt cao nhất ở ngày ương thứ 10. Tuy nhiên, từ ngày ương thứ 13, hàm lượng TAN giảm và duy trì cho đến cuối chu kì ương. Hàm lượng TAN giảm hiệu quả ở nghiệm thức 3N (ấu trùng được cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn liều lượng (3ml/kg) mỗi ngày) và ở nghiệm thức 3.1N (ấu trùng được cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn cách nhau 1 ngày). Cụ thể, hàm lượng TAN trung bình trong suốt chu kì ương ở nghiệm thức 3.1N (0,28mg/L) và 3N (0,32mg/L) đạt thấp nhất và giảm từ 1,0 – 1,2 lần so với nghiệm thức đối chứng. Dần về cuối chu kỳ ương, nghiệm thức 3N có hàm lượng TAN càng thấp (0,15 mg/L) và giảm hơn 7 lần so với hàm lượng TAN ở ngày ương thứ 10 (1,08 mg/L) và thấp hơn 2 lần so với nghiệm thức đối chứng (0,34 mg/L). Theo Nguyễn Văn Minh và ctv. (2010) thì vi khuẩn Bacillus sp. trong trùn quế có khả năng tham gia vào chuyển hóa vật chất hữu cơ và bùn hữu cơ trong ao nuôi, có tác dụng cải thiện môi trường. Đây có thể là nguyên nhân làm hàm lượng TAN giảm thấp vào cuối chu kì ương ở những nghiệm thức có bổ sung dịch trùn quế.

Hàm lượng Nitrite (N-NO2-): Khuynh hướng biến động N-NO2- ở các nghiệm thức tương đối giống nhau trong suốt thời gian tiến hành thí nghiệm và dao động trong khoảng 0,02 – 0,29 mg/L. Hàm lượng N-NO2- trung bình ở nghiệm thức cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn quế mỗi ngày với liều lượng 3ml/kg thức ăn (3N) ít có sự biến động và trung bình đạt thấp nhất (0,06 ± 0,02mg/L), so với nghiệm thức đối chứng (0,09 ± 0,06mg/L) thì hàm lượng này thấp hơn 1,5 lần. Theo Nguyễn Thanh Phương, (2003), hàm lượng N-NO2- ở mức 2 mg/L vẫn không ảnh hưởng đến ấu trùng. Như vậy, việc sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế (3ml/kg thức ăn mỗi ngày) có tác dụng góp phần làm giảm sự biến động hàm lượng TAN và N -NO2- trong môi trường nước ương tôm càng xanh.

Hàm lượng Nitrate (N-NO3-): Ngược với sự biến động của TAN và N-NO2-, hàm lượng N-NO3- ở các nghiệm thức có khuynh hướng tăng nhẹ vào cuối chu kì ương và sự biến động này không theo một quy luật nhất định. Hàm lượng N-NO3- của các nghiệm thức sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế dao động trong khoảng 0,09 – 0,29mg/L và biến động mạnh ở nghiệm thức bổ sung dịch trùn quế mỗi ngày. Hàm lượng N-NO3- trung bình ở các nghiệm thức tương đương nhau và biến động tăng nhẹ vào cuối chu kỳ ương. Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2003) hàm lượng N-NO3- tốt nhất nên duy trì dưới 20 mg/L. Như vậy, mặc dù trong chu kỳ ương hàm lượng N-NO3- có nhiều biến động tăng nhưng ở khoảng thấp và không ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng.

Vi khuẩn Vibrio: Khi sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế với các liều lượng khác nhau mỗi ngày thì nghiệm thức 3N có mật số vi khuẩn Vibrio sp. thấp nhất (25 CFU/mL) vào cuối chu kì ương, thấp hơn 6 lần so với nghiệm thức đối chứng (155 CFU/ml). Kết quả này phù hợp với nhận định của Nguyễn Văn Minh và ctv. (2010), vi khuẩn Bacillus sp. phân lập được từ trùn quế có khả năng ức chế mạnh đối với sự phát triển của 3 chủng Vibrio gây bệnh (Vibrio parahaemolyticus, Vibrio alginolyticus, Vibrio harveyi). Giai đoạn đầu chu kì ương, mật số vi khuẩn Vibrio sp. tăng cao và giảm xuống đột ngột vào ngày ương thứ 13 ở tất cả các nghiệm thức. Nguyên nhân có thể do việc xử lí Zoothanium bằng Formaline vào ngày ương thứ 12 đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp. Liều lượng và nhịp cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn quế khác nhau có ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp., và khuynh hướng biến động của vi khuẩn ở các nghiệm thức có bổ sung dịch trùn vào thức ăn luôn thấp hơn so với sự phát triển Vibrio sp. ở nghiệm thức đối chứng. Như vậy, dịch trùn quế được bổ sung mỗi ngày vào thức ăn ấu trùng với liều lượng 3ml/kg thức ăn có tác dụng làm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp. trong bể ương tôm càng xanh hiệu quả nhất.

Tỷ lệ sống ấu trùng: Tỷ lệ sống trung bình của ấu trùng trong thí nghiệm dao động từ (50,0 ± 34,5% – 90,0 ± 4,48%) (Bảng 3). Ấu trùng ở nghiệm thức 3.N có tỷ lệ sống cao nhất (90,0 ± 4,48%) và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức đối chứng (55,9 ± 3,70%) và nghiệm thức 2.2N (50,0 ± 34,5%), đây là 2 nghiệm thức có tỷ lệ sống ấu trùng thấp. Nghiệm thức 2.2N có tỷ lệ sống thấp là do trong quá trình thí nghiệm, sục khí bể ương bị nghẽn không được phát hiện kịp thời ở ngày ương thứ 20 dẫn đến ấu trùng trong bể hao hụt nhiều. Bên cạnh đó, quá trình lột xác của ấu trùng không đồng loạt, đồng thời nước ương rất trong nên dễ xảy ra hiện tượng ăn nhau và đây là những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệm thức đối chứng. Như vậy, thức ăn có bổ sung dịch trùn quế có tác dụng tốt trong cải thiện chất lượng môi trường nước ương, góp phần gia tăng tỷ lệ sống của ấu trùng trong sản xuất giống tôm càng xanh.

Kết luận

Sử dụng dịch trùn quế trong ương ấu trùng tôm càng xanh góp phần quản lí môi trường bể ương tốt hơn, các yếu tố môi trường nằm trong khoảng cho phép và hạn chế đáng kể sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp.

Ấu trùng có tỉ lệ sống đạt cao nhất (90,0 ± 0,48%) ở nghiệm thức được cho ăn bằng thức ăn bổ sung dịch trùn với liều lượng 3 ml/kg thức ăn mỗi ngày và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng (55,9 ± 3,7%).

Experiment using Promin in Macrobrachium rosenbergii larva rearing

This study aimed to evaluate the effects of Promin in Macrobrachium rosenbergii larva rearing according to the close water system. The experiment was arranged in random with completed designs include 3 treatments. Three replicate each with 2 factors: doses of Promin was supplied into the food (0, 1, 2, 3 ml / kg of feed) and cycles for larvae feed supplemented with Promin (no feeding, feeding every day, every another day (one day interval), two day interval). The experimental results that, using Promin has contributed to make the stability and improve better for the environmental parameters. TAN and N-NO2- decreased and they were lower than the control treatment, N-NO3-levels increased but remained in the suitable range for the development of larvae. The larval molting occurs simultaneously when supplemented Promin 3ml/kg per day, which improve the average survival of larvae in this experiment was and to be highest (90 ± 0,48%), significant difference (p <0,05) compared to control treatment (55,9 ± 3,7%) and declining the development Vibrio sp. Thus, using Promin extracted from earthworm for larval food at the rate of 3ml/kg per day has contributed to improve the survival rate of larvae and increase efficiency in prawn hatchery.

Aquanetviet.org (tổng hợp)
Source: Nguyễn Lê Hoàng Yến và Nguyễn Bảo Trung. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Số chuyên đề: Thủy sản (2014)(2): 108-113

Leave a Reply

Be the First to Comment!

Notify of
avatar
wpDiscuz

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

  • Ngày đăng : 31-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Bột trùn quế trong chăn nuôi

    Bột trùn làm tăng khả năng tăng trưởng, phát triển cơ, tăng trọng, bồi đắp lượng Protein và Acid amin thiếu hụt, tăng cường khả năng tình dục, ngon miệng và làm cho thức ăn có vẽ hấp dẫn và lôi cuốn hơn đối với vật nuôi. Vì thế sẽ tránh được trường hợp thừa thải thức ăn và việc chăn nuôi thu gặt được nhiều thắng lợi.Vật nuôi được khuyến khích: Cá, ếch, tôm, cua Chim, cá cảnh, vật nuôi kiểng Gia súc, gia cầm Thú nuôi, cừu, dê, ngựa.. Ứng dụng 1. Cho ngựa: Ăn kiêng: Chỉ cần 3 gram bột trùn mỗi ngày và liên tục trong 20 ngày (Ngựa trưởng thành 400kg) sẽ tăng phần cơ bắp lên
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 30-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Giá thể trùn quế Prosoil – SẢN PHẨM DÀNH RIÊNG CHO NÔNG DÂN ĐÔ THỊ

    SẢN PHẨM DÀNH RIÊNG CHO NÔNG DÂN ĐÔ THỊ THÀNH PHẦN: Được sản xuất từ nguyên liệu 100% phân trùn quế đã qua công đoạn xứ lý côn trùn và mầm bệnh Độ ẩm:                                                                    45% Hàm lượng chất hữu cơ:                                        22,6% Tổng số vi sinh vật cố định đạm:                       6,4 x 106 Tổng số sinh vật phân giải lân:                            6,0 x 106 Tổng số sinh vật phân giải xenlulose:              5,8 x 106 CÔNG DỤNG: Giúp cây trồng hấp thu dinh dưỡng tốt Tăng sức đề kháng của cây với một số
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 13-02-2017 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Sử dụng trùn quế tươi trong nuôi trồng thủy hải sản trunque

    Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae. là giống vật nuôi có hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ nuôi với số lượng lớn. Sử dụng trùn quế tươi trong nuôi trồng thủy hải sản đây là loại thức ăn giàu đạm, chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm và thủy hải sản, đồng thời làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi. Với hàm lượng protein thô chiếm 70% trọng lượng khô, hàm lượng đạm của trùn quế tương đương với bột cá. Trùn quế còn hội đủ 12 loại axit amin, nhiều loại vitamin, chất khoáng cần thiết cho gia súc, gia cầm và thủy sản. Đặc biệt, trùn quế còn có các loại kích thí
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 03-01-2017 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Dịch Trùn Quế Promin Trong Ương Ấu Trùng Tôm Càng Xanh

    Thử nghiệm sử dụng dịch trùn quế promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) Giới thiệu Trùn quế (Perionyx excavatus) hiện nay được xem là nguồn thức ăn quý giá trong ương nuôi các đối tượng thủy sản như tôm hùm, ba ba, tôm sú, tôm càng xanh,… có giá trị dinh dưỡng cao cùng các acid amin thiết yếu. Các sản phẩm từ trùn quế đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công trong thủy sản như: Bột trùn, phân trùn, dịch trùn quế Promin, BIO-T,… Trong đó, bột trùn quế đã được nghiên cứu làm thức ăn bổ sung trong ương ấu trùng tôm sú, cho kết quả chất lượng Postlorvae - 15 tốt
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 30-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Tác Dụng Của Phân Trùn Quế

    Phân trùn quế là loại phân bón thiên nhiên giàu dinh dưỡng có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng. Không giống như phân chuồng, phân trùn được hấp thu ngay một cách dễ dàng bởi cây trồng, nó không chỉ kích thích tăng trưởng cho cây trồng mà còn tăng khả năng duy trì giữ nước trong đất và thậm chí còn có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ... Phân trùn quế là một loại phân hữu cơ 100%, được tạo thành từ phân trùn nguyên chất, là loại phân thiên nhiên giàu dinh dưỡng nhất mà con người từng biết đến. Phân trùn quế chứa một sinh vật có hoạt tính cao như  vi khuẩn, nấm mốc. đặc biệt là hệ v
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 03-01-2017 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Đề Tài về Trùn Quế Cần Nghiên Cứu

      Chào các bạn sinh viên thân mến. Hiện tại Công ty chúng tôi đang chào đón các bạn sinh viên có những ý tưởng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi (thủy sản & gia súc gia cầm) mà có liên quan đến trùn quế. Vui lòng gửi thư cho chúng tôi (wormvns@gmail.com) đồng thời nói rõ ý tưởng nghiên cứu. chúng tôi sẽ xem xét và hỗ trợ các bạn một cách cụ thể nhất. Sau đây là một số đề tài gợi ý cho các bạn sinh viên tham khảo: 1. Đề tài dùng trùn quế xử lý cây lục bình làm phân bón. 2. Đề tài dùng phân trùn quế cải tạo ruộng nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. 3. Đề tài t
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 30-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Lục Bình – Nuôi Trùn Quế

    Cây lục bình – Water hyacinth là loài cỏ đa niên, là thực vật thủy sinh xâm hại các dòng chảy chính trên mặt nước ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và đông nam bộ. Hằng năm nhiều địa phương phải chi một khoảng kinh phí và nhân lực rất lớn để thu gom lục bình, làm sạch các dòng chảy cho sản xuất nông nghiệp, giảm ô nhiễm môi trường. Cây lục bình có giá trị kinh tế cao nếu biết sử dụng một cách hợp lý như làm hàng thủ công mỹ nghệ, phân bón và làm thức ăn cho trùn quế. Cách chế biến thức ăn cho trùn quế: Sau khi vớt lục bình về, băm nhỏ, cho vào hồ trộn tỷ lệ 5/5 với phân bò, tưới nước thật ẩm,
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 26-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Promin – Proworm Kết Hợp Diệu Kỳ

    Promin một sản phẩm kế thừa của công nghệ thủy phân bằng enzyme cùng với sự kết hợp với đạm hữu cơ từ trùn quế đã cho ra đời một sản phẩm dinh dưỡng hữu cơ tự nhiên mà trong đó các yếu tố amino acid và các chủng vi sinh lợi khuẩn được chắt lọc. Trong khi đó, Proworm được hình thành từ quá trình nuôi trùn quế, bằng sự chăm sóc mỗi ngày cùng sự kết hợp với chế phẩm sinh học E.M đã cho ra dạng phân hữu cơ giàu dinh dưỡng và vi sinh cần thiết. Trong những năm qua, với tập tính canh tác vô cơ, nuôi tôm thẻ với mật độ dày, kết hợp dùng hóa chất và thuốc kháng sinh tùy tiện đã làm cho ao nuôi gần n
    Xem thêm ...

Trùn Quế An Phú – Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

Thiết kế & Seo bởi: Seo Từ Khoá