Facebook Trùn Quế Twitter Trùn Quế Youtube Trùn Quế In Trùn Quế Google Trùn Quế

Dịch Trùn Quế Promin

30-12-2016 Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

18

 

CÔNG DỤNG:

  1. Không chỉ đơn thuần là chất dẫn dụ hấp dẫn tôm, cá, mà dịch trùn quế Promin còn được xem như là một thức ăn bổ sung dạng nước, cung cấp các Vitamin và Acid amin thiết yếu nhằm cân bằng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho tôm, cá. Đặc biệt dịch trùn quế Promin có một mùi vị rất đặc trưng kích thích sự thèm ăn, giúp tôm ăn nhiều, tăng trọng nhanh.
  2. Dùng áo thức ăn (chất kết dính), thay thế hoàn toàn dầu gan mực.
  3. Kết hợp với Xử lý ao Proworm trong quá trình gây màu ban đầu sẽ cho kết quả rất khả quan, xem Promin & Proworm sự kết hợp kỳ diệu! phía dưới.

CÁCH SỬ DỤNG:

  1. Dùng 100 – 150ml Promin cho vào 1 thau nhựa, cho thêm 1 lít nước, khuấy đều, sau đó trộn đều với 10kg thức ăn tổng hợp, ủ 10 phút trước khi cho tôm ăn.
  2. Dùng dịch trùn Promin như hỗn hợp kết dính trong quá trình phối trộn thức ăn cho tôm (đối với các trang trại nuôi tôm chế biến thức ăn tại chổ).
  3. Sau khi thả giống 15 ngày có thể sử dụng.

“Sản phẩm dạng sệt, độ kết dính cao, màu cà phê sữa”

LIỀU LƯỢNG:

Tôm bố mẹ: 5ml/kg thức ăn, trong suốt quá trình nuôi.

Tôm thịt: Thường xuyên trộn tỷ lệ 10 – 15 ml/kg thức ăn hỗn hợp, 20ml/kg trước khi xuất bán 15 ngày. Trước nay theo thông lệ các trang trại nuôi tôm thường áp dụng phương pháp xay nhuyễn trùn tươi hoặc trùn đông lạnh trộn với thức ăn hỗn hợp tỷ lệ 1/15 hay 1/20, điều này sẽ dẫn đến một số vấn đề như sau:

  1. Tỷ lệ trộn lẫn và thẩm thấu của trùn vào thức ăn hỗn hợp không cao khoảng 75 – 78%, nên khi cho xuống ao tôm sẽ dẫn đến trường hợp nguồn nước bị ô nhiễm và một lượng lớn trùn (25%) sẽ bị thất thoát.
  2. Việc vận chuyển, bảo quản cũng như chế biến trước khi đem vào sử dụng rất khó khăn, đẩy giá thành lên cao.
  3. Thời gian bắt mồi nhanh 5 giây và sau 60 phút lưới thức ăn mới hoàn toàn hết.

Sau một thời gian thực hiện thử nghiệm trên một số ao tôm đối với sản phẩm dịch trùn quế Promin đã cho ra một số kết quả bất ngờ:

  1. Tỷ lệ trộn lẫn của dịch trùn vào thức ăn hỗn hợp gần như 100%, sẽ tránh được tình trạng thất thoát và làm ô nhiễm nguồn nước như trùn tươi.
  2. Việc vận chuyển đơn giản, dễ bảo quản và sử dụng.
  3. Thời gian bắt mồi nhanh 5 giây và chỉ sau 42 phút lưới thức ăn hoàn toàn sạch

QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: 1 lít, 5 lít và 20 lít.

Theo cách nghĩ thông thường của bà con ta: Tất cả đồ tươi sống đều tốt!

Hãy tham khảo bảng so sánh đã được kiểm định tại trung tâm 3.

Sản phẩm đã được công bố chất lượng & đã được cấp phép lưu hành tại Việt Nam.

BẢNG PHÂN TÍCH THÍ NGHIỆM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Promin & Proworm sự kết hợp kỳ diệu!

Promin một sản phẩm kế thừa của công nghệ thủy phân bằng enzyme cùng với sự kết hợp với đạm hữu cơ từ trùn quế đã cho ra đời một sản phẩm dinh dưỡng hữu cơ tự nhiên mà trong đó các yếu tố amino acid và các chủng vi sinh lợi khuẩn được chắt lọc.

Trong khi đó, Proworm được hình thành từ quá trình nuôi trùn quế, bằng sự chăm sóc mỗi ngày cùng sự kết hợp với chế phẩm sinh học E.M đã cho ra dạng phân hữu cơ giàu dinh dưỡng và vi sinh cần thiết.

Trong những năm qua, với tập tính canh tác vô cơ, nuôi tôm thẻ với mật độ dày, kết hợp dùng hóa chất và thuốc kháng sinh tùy tiện đã làm cho ao nuôi gần như cạn kiệt nguồn dinh dưỡng và hậu quả trong 3 năm nay ngành nuôi tôm thẻ nước ta không thể khống chế được căn bệnh đốm trắng và phân trắng mà tưởng chừng như vô hại.

Trong khi đó, vài năm gần đây, có một số trại nuôi tôm vẫn trúng đều là nhờ họ biết kết hợp nhịp nhàng quy trình canh tác hữu cơ.

Với kinh nghiệm trúng mùa liên tục của kỹ sư Nguyễn Như Chung ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng, để khống chế bệnh tật, trước hết chúng ta phải chọn mua tôm giống những nơi có uy tín, sau đó việc tạo môi trường thích hợp và giàu dinh dưỡng cho tôm sống là điều cực kỳ quan trọng.

Tôm giống được nuôi ấp trong môi trường nhân tạo, các loại dinh dưỡng hàng ngày của tôm cũng gần như đặc biệt…. tuy nhiên khi đưa vào môi trường ao nuôi chúng phải tiếp cận với môi trường tự nhiên giàu hóa chất độc hại và gần như không có thức ăn để ăn. Điều này đồng nghĩa với việc tôm hoàn toàn suy dinh dưỡng ngay giai đoạn đầu. Tại sao chúng ta không tạo thức ăn tự nhiên và môi trường thân thiện cho chúng?

Như thường lệ, sau khi vô nước ao ta vẫn dùng diệt khuẩn, đánh canxi và dolomite. Sau đó ta đánh 15kg proworm cho 1000m3. Đánh liên tục 3 lần trong 1 tuần cho đến ngày thả giống. Trước khi thả giống 2 ngày cần đánh vi sinh và khoáng.

Sau khi thả giống từ ngày thứ 1, tiến hành đánh Promin 2ppm, liên tục 5 ngày. Khi tôm được 10 ngày đánh lại proworm 15kg/1000m3. Khi tôm được 20 ngày tuổi đánh tiếp lần 2.

Với sự kết hợp nhịp nhàng của Promin & Proworm đã tác động nên việc hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh cho tôm trong môi trường tự nhiên vào giai đoạn đầu.

Với tác dụng của Proworm cung cấp khoáng chất & vi sinh giúp quá trình gây màu nước tốt, hàm lượng tảo silic rất cao. Promin cung cấp amino acid, dưỡng chất cho tảo phát triển từ đó các phiêu sinh vật sinh trưởng trong ao rất nhiều.

Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tôm post trong giai đoạn đầu có được môi trường sống thích hợp và lượng thức ăn dinh dưỡng tự nhiên cần thiết, làm tăng cường khả năng kháng bệnh của tôm trong quá trình phát triển sau này..

Sau khi thả tôm được 20 ngày thì tiến hành trộn Promin vào thức ăn với hàm lượng 10g/1kg thức ăn. Gần thu hoạch thì trộn 20g/kg thức ăn.

Tác dụng của Promin: Bổ sung thêm amino acid, tăng độ đạm cho thức ăn, ngoài ra nó còn là chất kết dính thuốc vào thức ăn. Promin làm từ trùn quế nên có mùi tanh sẽ kích thích tôm bắt mồi. Sử dụng Promin bổ sung vào thức ăn làm giảm hệ số thức ăn, tôm chắc bóng đẹp, rút ngắn thời gian nuôi, tỷ lệ tôm thu/tôm thả đạt 95%


Dịch trùn và Bệnh Phân Trắng cho Tôm

Đầu năm, do vùng nuôi tôm hạ lưu sông Bàn Thạch bị bệnh dịch. Chỉ tính riêng hai xã Hoà Hiệp Nam, Hoà Tâm đã có trên 90% trong số 437 ha thả nuôi bị bệnh dịch, thua lỗ, người dân gặp nhiều khó khăn. Vụ II do thiếu vốn đầu tư, cải tạo ao hồ không triệt để, nguồn giống trôi nổi, giá thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, thời tiết nắng nóng kéo dài … nên hiện nay tôm lại bị bệnh phân trắng, lây lan trên diện rộng. Để cung cấp kịp thời cho bà con các giải pháp khắc phục sự cố này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết “Kỹ thuật phòng trị bênh phân trắng trên tôm nuôi”.

Bệnh phân trắng không phải là bệnh nguy hiểm như đốm trắng, đầu vàng nhưng lây lan nhanh làm giảm năng suất, gây thiệt hại nặng nề cho bà con nuôi tôm. Bệnh thường gặp ở tôm 40 – 50 ngày tuổi trở lên, thường xuất hiện trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước cao, nuôi mật độ dày, cải tạo ao hồ không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Triệu chứng bệnh:

– Xuất hiện phân tôm màu trắng trên nhá hoặc nổi trên mặt nước, dọc bờ ao, góc ao, cuối hướng gió.

– Tôm giảm ăn.

– Ruột tôm không đầy thức ăn, có những đốm màu vàng ở phần cuối ruột.

– Tôm bị ốp, mỏng vỏ, teo nhỏ dần.

– Tôm chậm lớn.

Nguyên nhân:

Bệnh có thể do nhiều hoặc một trong những tác nhân sau:

– Tảo độc tiết ra độc tố, phá hủy bộ phận gan tụy và đường ruột tôm.

– Tôm bị nhiễm khuẩn trên đường ruột.

– Do nhiễm nguyên sinh động vật ( Gregarine ).

– Do nhiễm độc tố thức ăn ( Aflatoxin ).

Phòng bệnh:

– Thực hiện giải pháp bù đắp sinh học trong hệ thống nuôi tôm: Thay bớt lớp bùn đáy, bón vôi, phơi khô để tiêu diệt các virus, vi khuẩn gây bệnh tôm. Gây màu nước bằng phân trùn ( 6 – 10 kg/1.000 m3 nước ), định kỳ bón E.M ( 2lít/1.000 m3 ) để bù đắp, bổ sung các vi sinh vật có lợi cho ao nuôi.

– Tăng cường mức nước trong ao, độ sâu: 1,2 – 1,5 m.

– Mật độ thả nuôi nên phù hợp điều kiện thiết bị kỹ thuật hiện có.

– Cho tôm ăn thức ăn có chất lượng cao.

– Thường xuyên trộn vào thức ăn các loại men có thành phần chính: Lactobacillus sporogenes như PROBIO F2 ( 2 – 3 g/kg thức ăn )… vì vi khuẩn này sản xuất acid lactic, vừa làm tiêu hoá tốt thức ăn vừa ngăn chặn mạnh mẽ sự phát triển, xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, làm tôm khoẻ mạnh, nhanh lớn, trộn áo bằng dịch trùn ( 1 kg cho 50 – 60 kg thức ăn ) vì dịch trùn là sản phẩm giàu đạm, các acid amin cần thiết cho động vật thuỷ sinh, các nguyên tố vi lượng Zn, Selenium …, vi khuẩn Bacillus spp giúp chuyển hoá tốt các chất dinh dưỡng có trong con trùn, thức ăn vào con tôm làm tăng sức đề kháng, kích hoạt hệ miễn dịch cho tôm nuôi.

Đồng thời diệt khuẩn nước ao nuôi bằng các sản phẩm có thành phần chính Iodine, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì.

Trị bệnh:

Dùng BERBERIN: 3 viên/kg thức ăn, cho ăn liên tục 3 – 5 ngày vào 2 suất ăn mạnh nhất trong ngày, suất còn lại cho ăn BIO SUBTYL: 5 gói/kg thức ăn.

Đồng thời phải diệt khuẩn nước ao nuôi bằng các sản phẩm có thành phần chính Iodine, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì.

Sau 3 – 5 ngày tôm trở lại ăn bình thường thì chuyển sang liều phòng.

Trường hợp phát hiện trong ao màu tảo quá đậm (thông thường có màu xanh lục đậm ) thì nên lập tức thay nước, giảm tảo ( dùng nước đã qua xử lý).

Để phòng trị bệnh phân trắng có hiệu quả nên kiểm tra, thường xuyên thay nước, giữ môi trường ao nuôi trong sạch.

Lưu ý:

Sau khi sử dụng kháng sinh 3 – 5 ngày tôm ăn trở lại bình thường, nếu còn một ít phân trắng thì vẫn ngừng sử dụng kháng sinh, cho tôm ăn “ Dịch trùn + Men ProBio F2 ”đều đặn cho đến khi thu hoạch, thường xuyên thay nước, giữ môi trường ao nuôi trong sạch thì việc xử lý bệnh sẽ thành công.

Nguồn: http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/phu-yen-ky-thuat-phong-tri-benh-phan-trang-tren-tom-nuoi


Dịch Trùn Quế Promin Trong Ương Ấu Trùng Tôm Càng Xanh

Thử nghiệm sử dụng dịch trùn quế promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)

Giới thiệu

Trùn quế (Perionyx excavatus) hiện nay được xem là nguồn thức ăn quý giá trong ương nuôi các đối tượng thủy sản như tôm hùm, ba ba, tôm sú, tôm càng xanh,… có giá trị dinh dưỡng cao cùng các acid amin thiết yếu. Các sản phẩm từ trùn quế đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công trong thủy sản như: Bột trùn, phân trùn, dịch trùn quế Promin, BIO-T,… Trong đó, bột trùn quế đã được nghiên cứu làm thức ăn bổ sung trong ương ấu trùng tôm sú, cho kết quả chất lượng Postlorvae – 15 tốt hơn thức ăn nhập ngoại Frippak (Phan Thị Bích Trâm và ctv., 2009). Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Minh và ctv., (2010) khi phân lập vi sinh vật kiểm soát mầm bệnh trong trùn quế (Perionyx excavatus) nhận thấy: trong 13 chủng Bacillus sp. thì thấy 3 chủng Bacillus sp. đối kháng với vi khuẩn gây bệnh và kháng mạnh với nhóm Vibrio. Mặc dù được ứng dụng nhiều trong thủy sản nhưng sử dụng dịch trùn quế trong sản xuất giống tôm càng xanh vẫn còn hạn chế, do đó “Thử nghiệm sử dụng dịch trùn quế Promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)” được thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Sinh học Ứng dụng – Trường Đại học Tây Đô, nhằm góp phần nâng cao tỉ lệ sống ấu trùng tôm càng xanh, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm càng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nội dung nghiên cứu

– Ảnh hưởng của liều lượng, chu kỳ cho ấu trùng sử dụng thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin đến các yếu tố môi trường: nhiệt độ, pH, TAN, N-NO2-, N-NO3- , khi ương tôm càng xanh theo qui trình nước trong kín.

– Đánh giá biến động mật độ vi khuẩn Vibrio sp. trong quá trình ương tôm càng xanh, khi tôm được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin.

– Ảnh hưởng của dịch trùn quế đến tỉ lệ sống PL15 tôm càng xanh khi kết thúc thí nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí theo qui trình nước trong kín (Closed-clear water systems) được nghiên cứu và áp dụng bởi Sanfider và Smith từ năm 1975 (Valenti và Daniel, 2000). Hệ thống thí nghiệm gồm 30 bể nhựa, có thể tích nước ương là 50 lít/bể. Nước ương có độ mặn 12%o được pha từ nước ót (80‰) và nước máy thành phố. Ấu trùng được bố trí với mật độ 60 con/L. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại với 2 nhân tố là 4 liều lượng bổ sung dịch trùn quế vào thức ăn chế biến (0, 1, 2, 3 ml/kg) và 3 chu kì cho ấu trùng ăn thức ăn chứa dịch trùn quế (Promin) khác nhau (hằng ngày, cách 1 ngày, cách 2 ngày) xen kẽ với thức ăn chế biến bình thường, không bổ sung dịch trùn (Bảng 1).

Từ 100% trùn quế, dịch trùn quế Promin có chứa vitamin B1 (50 mg); Vitamin B6 (40 mg); Vitamin B12 (60 mg); Alanin (150 mg); Glycine (140 mg); Leucine (180 mg); Serine (130mg); Aspartic acid (280 mg); Glutamic acid (260 mg); Lysine (120 mg); Bacillus spp. (6,7 x10^4 CFU/ml); Lactobacillus (4,0 x 10^3 CFU/ml).

Từ giai đoạn I đến IV, ấu trùng tôm được cho ăn Artemia 2 lần/ngày với mật độ 3 – 4 ấu trùng/mL. Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn V, thức ăn chế biến được cho ăn 4 lần/ngày (7 giờ, 10 giờ, 13 giờ và 16 giờ) và kết hợp Artemia vào lúc 18 giờ với mât độ 1 – 2 ấu trùng/mL. Lượng thức ăn chế biến được cho ăn thỏa mãn nhu cầu bắt mồi của ấu trùng. Công thức thức ăn chế biến cơ bản dựa trên công thức của Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2003). Dịch trùn quế được bổ sung vào thức ăn với các liều lượng khác nhau khi thức ăn được cà nhuyễn theo các kích cỡ mắt lưới từ 300 – 700 µm, tương ứng từng giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh.

Trong thời gian thí nghiệm, chỉ tiêu nhiệt độ và pH được ghi nhận 2 lần/ngày (8 giờ và 14 giờ), các chỉ tiêu TAN, N-NO2-, N-NO3-, Vi khuẩn Vibrio sp. được thu mẫu trước khi bố trí thí nghiệm và sau đó định kì 3 ngày/lần với các phương pháp phân tích lần lượt là Indophenol blue, Diazonium, Salicilate và đếm số khuẩn lạc cấy trên TCBS agas. Tỉ lệ sống PL15 được xác định vào cuối thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu

Nhiệt độ và pH: Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ dao động trong khoảng (28,5 ± 0,48 oC – 31,3 ± 0,47oC) và pH từ (7,87 ± 0,07 – 8,19 ± 0,06). Đây là khoảng biến động thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh (Boyd và Zimmermann, 2000).

Tổng đạm Ammonia (TAN: Total Ammonia Nitrogen): Hàm lượng TAN tương đối thấp trong 7 ngày đầu, sau đó có xu hướng tăng ở hầu hết các nghiệm thức và đạt cao nhất ở ngày ương thứ 10. Tuy nhiên, từ ngày ương thứ 13, hàm lượng TAN giảm và duy trì cho đến cuối chu kì ương. Hàm lượng TAN giảm hiệu quả ở nghiệm thức 3N (ấu trùng được cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn liều lượng (3ml/kg) mỗi ngày) và ở nghiệm thức 3.1N (ấu trùng được cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn cách nhau 1 ngày). Cụ thể, hàm lượng TAN trung bình trong suốt chu kì ương ở nghiệm thức 3.1N (0,28mg/L) và 3N (0,32mg/L) đạt thấp nhất và giảm từ 1,0 – 1,2 lần so với nghiệm thức đối chứng. Dần về cuối chu kỳ ương, nghiệm thức 3N có hàm lượng TAN càng thấp (0,15 mg/L) và giảm hơn 7 lần so với hàm lượng TAN ở ngày ương thứ 10 (1,08 mg/L) và thấp hơn 2 lần so với nghiệm thức đối chứng (0,34 mg/L). Theo Nguyễn Văn Minh và ctv. (2010) thì vi khuẩn Bacillus sp. trong trùn quế có khả năng tham gia vào chuyển hóa vật chất hữu cơ và bùn hữu cơ trong ao nuôi, có tác dụng cải thiện môi trường. Đây có thể là nguyên nhân làm hàm lượng TAN giảm thấp vào cuối chu kì ương ở những nghiệm thức có bổ sung dịch trùn quế.

Hàm lượng Nitrite (N-NO2-): Khuynh hướng biến động N-NO2- ở các nghiệm thức tương đối giống nhau trong suốt thời gian tiến hành thí nghiệm và dao động trong khoảng 0,02 – 0,29 mg/L. Hàm lượng N-NO2- trung bình ở nghiệm thức cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn quế mỗi ngày với liều lượng 3ml/kg thức ăn (3N) ít có sự biến động và trung bình đạt thấp nhất (0,06 ± 0,02mg/L), so với nghiệm thức đối chứng (0,09 ± 0,06mg/L) thì hàm lượng này thấp hơn 1,5 lần. Theo Nguyễn Thanh Phương, (2003), hàm lượng N-NO2- ở mức 2 mg/L vẫn không ảnh hưởng đến ấu trùng. Như vậy, việc sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế (3ml/kg thức ăn mỗi ngày) có tác dụng góp phần làm giảm sự biến động hàm lượng TAN và N -NO2- trong môi trường nước ương tôm càng xanh.

Hàm lượng Nitrate (N-NO3-): Ngược với sự biến động của TAN và N-NO2-, hàm lượng N-NO3- ở các nghiệm thức có khuynh hướng tăng nhẹ vào cuối chu kì ương và sự biến động này không theo một quy luật nhất định. Hàm lượng N-NO3- của các nghiệm thức sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế dao động trong khoảng 0,09 – 0,29mg/L và biến động mạnh ở nghiệm thức bổ sung dịch trùn quế mỗi ngày. Hàm lượng N-NO3- trung bình ở các nghiệm thức tương đương nhau và biến động tăng nhẹ vào cuối chu kỳ ương. Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2003) hàm lượng N-NO3- tốt nhất nên duy trì dưới 20 mg/L. Như vậy, mặc dù trong chu kỳ ương hàm lượng N-NO3- có nhiều biến động tăng nhưng ở khoảng thấp và không ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng.

Vi khuẩn Vibrio: Khi sử dụng thức ăn có bổ sung dịch trùn quế với các liều lượng khác nhau mỗi ngày thì nghiệm thức 3N có mật số vi khuẩn Vibrio sp. thấp nhất (25 CFU/mL) vào cuối chu kì ương, thấp hơn 6 lần so với nghiệm thức đối chứng (155 CFU/ml). Kết quả này phù hợp với nhận định của Nguyễn Văn Minh và ctv. (2010), vi khuẩn Bacillus sp. phân lập được từ trùn quế có khả năng ức chế mạnh đối với sự phát triển của 3 chủng Vibrio gây bệnh (Vibrio parahaemolyticus, Vibrio alginolyticus, Vibrio harveyi). Giai đoạn đầu chu kì ương, mật số vi khuẩn Vibrio sp. tăng cao và giảm xuống đột ngột vào ngày ương thứ 13 ở tất cả các nghiệm thức. Nguyên nhân có thể do việc xử lí Zoothanium bằng Formaline vào ngày ương thứ 12 đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp. Liều lượng và nhịp cho ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn quế khác nhau có ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp., và khuynh hướng biến động của vi khuẩn ở các nghiệm thức có bổ sung dịch trùn vào thức ăn luôn thấp hơn so với sự phát triển Vibrio sp. ở nghiệm thức đối chứng. Như vậy, dịch trùn quế được bổ sung mỗi ngày vào thức ăn ấu trùng với liều lượng 3ml/kg thức ăn có tác dụng làm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp. trong bể ương tôm càng xanh hiệu quả nhất.

Tỷ lệ sống ấu trùng: Tỷ lệ sống trung bình của ấu trùng trong thí nghiệm dao động từ (50,0 ± 34,5% – 90,0 ± 4,48%) (Bảng 3). Ấu trùng ở nghiệm thức 3.N có tỷ lệ sống cao nhất (90,0 ± 4,48%) và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức đối chứng (55,9 ± 3,70%) và nghiệm thức 2.2N (50,0 ± 34,5%), đây là 2 nghiệm thức có tỷ lệ sống ấu trùng thấp. Nghiệm thức 2.2N có tỷ lệ sống thấp là do trong quá trình thí nghiệm, sục khí bể ương bị nghẽn không được phát hiện kịp thời ở ngày ương thứ 20 dẫn đến ấu trùng trong bể hao hụt nhiều. Bên cạnh đó, quá trình lột xác của ấu trùng không đồng loạt, đồng thời nước ương rất trong nên dễ xảy ra hiện tượng ăn nhau và đây là những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệm thức đối chứng. Như vậy, thức ăn có bổ sung dịch trùn quế có tác dụng tốt trong cải thiện chất lượng môi trường nước ương, góp phần gia tăng tỷ lệ sống của ấu trùng trong sản xuất giống tôm càng xanh.

Kết luận

Sử dụng dịch trùn quế trong ương ấu trùng tôm càng xanh góp phần quản lí môi trường bể ương tốt hơn, các yếu tố môi trường nằm trong khoảng cho phép và hạn chế đáng kể sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp.

Ấu trùng có tỉ lệ sống đạt cao nhất (90,0 ± 0,48%) ở nghiệm thức được cho ăn bằng thức ăn bổ sung dịch trùn với liều lượng 3 ml/kg thức ăn mỗi ngày và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng (55,9 ± 3,7%).

Experiment using Promin in Macrobrachium rosenbergii larva rearing

This study aimed to evaluate the effects of Promin in Macrobrachium rosenbergii larva rearing according to the close water system. The experiment was arranged in random with completed designs include 3 treatments. Three replicate each with 2 factors: doses of Promin was supplied into the food (0, 1, 2, 3 ml / kg of feed) and cycles for larvae feed supplemented with Promin (no feeding, feeding every day, every another day (one day interval), two day interval). The experimental results that, using Promin has contributed to make the stability and improve better for the environmental parameters. TAN and N-NO2- decreased and they were lower than the control treatment, N-NO3-levels increased but remained in the suitable range for the development of larvae. The larval molting occurs simultaneously when supplemented Promin 3ml/kg per day, which improve the average survival of larvae in this experiment was and to be highest (90 ± 0,48%), significant difference (p <0,05) compared to control treatment (55,9 ± 3,7%) and declining the development Vibrio sp. Thus, using Promin extracted from earthworm for larval food at the rate of 3ml/kg per day has contributed to improve the survival rate of larvae and increase efficiency in prawn hatchery.

Aquanetviet.org (tổng hợp)
Source: Nguyễn Lê Hoàng Yến và Nguyễn Bảo Trung. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Số chuyên đề: Thủy sản (2014)(2): 108-113

Leave a Reply

Be the First to Comment!

Notify of
avatar
wpDiscuz

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

  • Ngày đăng : 26-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Trùn Đông Lạnh

      TÊN SẢN PHẨM: Trùn quế đông lạnh QUY CÁCH: Được đóng gói, cấp đông, trọng lượng 0,5kg – 2kg. GÍA THÀNH: Liên hệ Cty Trùn Quế An Phú để biết giá tốt nhất. (đặt hàng trước, chưa bao gồm phí vận chuyển) Đây là sản phẩm mới, được ứng dụng thành công trong việc tăng cường đạm cho thủy, hải sản trong những năm qua. ƯU ĐIỂM: Dễ dàng vận chuyển, bảo quản, cho ăn. CÁCH DÙNG: Xay nhuyễn trộn với thức ăn công nghiệp. LIỀU LƯỢNG: Ăn dặm: 1kg trùn + 30kg – 40kg thức ăn hỗn hợp. Ăn thúc: 1kg trùn + 15kg- 20kg thức ăn hỗn hợp (dành cho lươn, cá trước khi thu hoạch) Tôm sú, càng xanh từ 2 t
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 30-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Dịch Trùn Quế Promin

      CÔNG DỤNG: Không chỉ đơn thuần là chất dẫn dụ hấp dẫn tôm, cá, mà dịch trùn quế Promin còn được xem như là một thức ăn bổ sung dạng nước, cung cấp các Vitamin và Acid amin thiết yếu nhằm cân bằng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho tôm, cá. Đặc biệt dịch trùn quế Promin có một mùi vị rất đặc trưng kích thích sự thèm ăn, giúp tôm ăn nhiều, tăng trọng nhanh. Dùng áo thức ăn (chất kết dính), thay thế hoàn toàn dầu gan mực. Kết hợp với Xử lý ao Proworm trong quá trình gây màu ban đầu sẽ cho kết quả rất khả quan, xem Promin & Proworm sự kết hợp kỳ diệu! phía dưới. CÁCH
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 29-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Xử Lý Ao Proworm

    CÔNG DỤNG: Cung cấp khoáng chất & hữu cơ giúp quá trình gây màu nước tốt, hàm lượng tảo silic rất cao. Cung cấp hệ vi sinh giúp xử lý thức ăn dư thừa Thay thế hoàn toàn các hóa chất gây màu vô cơ, duy trì ổn định màu nước trong ao nuôi. CÁCH SỬ DỤNG: Trước khi thả giống 10 ngày: Định kỳ 3 ngày 1 lần với liều 20kg cho ao 1,000m3 (liều gấp đôi nếu ao nhiễm phèn hoặc PH thấp). Sau khi thả giống : 10 ngày và 20 ngày đánh liều 20kg cho ao 1,000m3. Dùng 80 lít nước sạch cho vào thùng nhựa, sau đó cho 20 kg Proworm khuấy đều hoặc dùng máy oxy sục trong 20 – 24 giờ sau đó bón đều xuống ao,
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 26-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Bột Trùn Quế

    TÊN THƯƠNG MẠI: ANPHU WORM MEAL CÔNG DỤNG: Bột trùn làm tăng khả năng tăng trưởng, phát triển cơ, tăng trọng, bồi đắp lượng Protein và Acid amin thiếu hụt, tăng cường khả năng tình dục, ngon miệng và làm cho thức ăn có vẽ hấp dẫn và lôi cuốn hơn đối với vật nuôi. CÁC ĐỐI TƯỢNG KHUYẾN KHÍCH SỬ DỤNG:  Gà đá: Đây thực sự là thức ăn bổ sung nên lựa chọn số một cho gà đá để có được chú gà chiến có sức khỏe bền bỉ, dẻo dai và cơ bắp…  Cá cảnh: Các loại cá cảnh loại nhỏ như lia thia, tép kiểng hay crayfish.  Chim cảnh: Dùng làm nguyên liệu cho các loại chim cảnh như chích chòe, chào mào, vành
    Xem thêm ...
  • Ngày đăng : 26-12-2016 Người đăng : Trùn Quế An Phú - Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

    Dịch trùn nuôi lươn

    THAY THẾ TRÙN TƯƠI & TRÙN ĐÔNG LẠNH Do nhu cầu thị trường của trùn quế dành cho nuôi lươn, công ty chúng tôi đã sản xuất ra dịch trùn quế dành cho lươn. Công dụng: Kích thích tính bắt mồi. Bổ sung hàm lượng Acid amin cần thiết cho lươn. Ổn định đường tiêu hóa. Dễ bảo quản, vận chuyển và sử dụng. Cách sử dụng: Dùng 1 Lít Promin phối trộn với 40kg hỗn hợp gồm cá tạp và cám tổng hợp, sau đó đem xay nhuyễn và ủ 10 phút trước khi cho lươn ăn. Liều lượng: Tỷ lệ: 1/40kg thức ăn, trong suốt quá trình nuôi và 1/30kg thức ăn trước khi xuất bán 15 ngày. Quy cách đóng gó
    Xem thêm ...

Trùn Quế An Phú – Cung cấp sản phẩm từ trùn quế

Thiết kế & Seo bởi: Seo Từ Khoá